Mọi thắc mắc xin quý vị vui lòng gửi đến cho chúng tôi. Quý vị sẽ nhận được trả lời của chúng tôi trong thời gian sớm nhất. Những ý tưởng của quý vị sẽ góp phần vào sự hoàn thiện các dịch vụ của chúng tôi. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn và đánh giá cao sự hợp tác của quý vị.

Chuyên mục hỏi đáp Chuyên mục hỏi đáp

Nội dung tìm
Tìm theo
Theo ngày
Lĩnh vực
Chưa có câu hỏi nào
Chưa có câu hỏi nào
chua-co-cau-hoi

Một số câu hỏi thường gặp Một số câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nhà đầu tư nước ngoài có được phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài để kinh doanh dịch vụ quảng cáo hay không?

Trả lời: Theo cam kết gia nhập WTO thì nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép thành lập công ty liên doanh (CTLD) trong đó nước ngoài có thể góp vốn vào liên doanh ở bất kỳ tỷ lệ nào nhỏ hơn 100%. Đồng thời, đối tác Việt Nam trong liên doanh phải là doanh nghiệp đã được phép kinh doanh dịch vụ quảng cáo. CTLD được phép cung cấp dịch vụ quảng cáo cho tất cả các loại sản phẩm, trừ thuốc lá. Việc cung cấp dịch vụ quảng cáo cho mặt hàng rượu là được phép nhưng phải đảm bảo tuân thủ các quy định của Nhà nước.
 

Câu hỏi: Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài?

Trả lời: Theo cam kết gia nhập WTO thì các doanh nghiệp lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài được phép tổ chức đưa khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam (inbound), đồng thời được phép cung cấp dịch vụ lữ hành nội địa nhưng phải là một phần của dịch vụ đưa khách du lịch vào Việt nam. Các doanh nghiệp lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài không được tổ chức tour tham quan nước ngoài cho khách du lịch Việt Nam (outbound). Hướng dẫn viên du lịch trong các doanh nghiệp lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài phải là công dân Việt Nam.
 

Câu hỏi: Nhà đầu tư nước ngoài có được phép thành lập công ty lữ hành 100% vốn nước ngoài hay không?

Trả lời: Theo cam kết gia nhập WTO thì Việt Nam chưa cam kết hình thức công ty 100% vốn nước ngoài đối với dịch vụ lữ hành. Để được cung cấp dịch vụ này tại Việt Nam, nhà đầu tư phải liên doanh với một đối tác Việt nam
 

Câu hỏi: Tỷ lệ góp vốn tối đa mà đối tác nước ngoài được góp vào công ty liên doanh hoạt động trong lĩnh vực logistics?

Trả lời: Theo khoản 3, Điều 5, thuộc Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2007 của Chính phủ, tỷ lệ vốn góp của thương nhân nước ngoài vào công ty liên doanh trong lĩnh vực logistics được quy định như sau: • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%; • Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn chế này chấm dứt vào năm 2014; • Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 2014; • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.
 

Câu hỏi: Nhà đầu tư nước ngoài có được phép kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng tại Việt Nam hay không?

Trả lời: Theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập liên doanh, trong đó vốn góp nước ngoài chiếm đa số, và công ty 100% vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ khách sạn và nhà hàng tại Việt Nam. Tuy nhiên, để được phép cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải đầu tư, nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn tại Việt Nam. Hạn chế này được duy trì đến năm 2015
 

Câu hỏi: Trường hợp dự án đầu tư vừa đáp ứng điều kiện ưu đãi đầu tư của Luật Đầu tư vừa đáp ứng điều kiện ưu đãi đầu tư của luật khác thì việc ưu đãi đầu tư áp dụng như thế nào?

Trả lời: Trường hợp dự án đầu tư đáp ứng được các điều kiện ưu đãi của một số Luật thì dự án đầu tư chỉ được chọn mức ưu đãi cao nhất của một Luật mà dự án đáp ứng đủ điều kiện.
 

Câu hỏi: Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam có trụ sở đăng ký kinh doanh và dự án đầu tư ở các tỉnh khác nhau thì làm thủ tục ở đâu?

Trả lời: Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư. Giấy chứng nhận đầu tư cấp cho nhà đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Dự án đặt tại địa phương nào thì tỉnh/ thành phố đó sẽ cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Do đó, dự án lần đầu đặt tại đâu thì doanh nghiệp sẽ được đăng ký ở đó.
 

Câu hỏi: Các quy định của pháp luật đối với trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam dự định thành lập doanh nghiệp mới tại Việt Nam?

Trả lời: Theo quy định tại khoản 4 điều 12 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam dự định thành lập doanh nghiệp mới tại Việt Nam được thực hiện như sau: - Trường hợp doanh nghiệp mới do doanh nghiệp có trên 49% vốn điều lệ là sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập hoặc tham gia thành lập thì phải có dự án đầu tư và thực hiện đăng ký đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. - Trường hợp DN mới do doanh nghiệp có không quá 49% vốn điều lệ là sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập, tham gia thành lập thì việc thành lập doanh nghiệp được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp. Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước.
 

Câu hỏi: Trường hợp các cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì xử lý như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại khoản 1 và 3 điều 84 Luật doanh nghiệp 2005 và khoản 4 điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, trường hợp có cổ đông không thanh toán đủ số CP đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ khi công ty được cấp Giấy CNĐKDN thì số cổ phần chưa góp đủ đó của cổ đông sáng lập được xử lý theo một trong các cách sau: - Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty; - Một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó; - Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Trong trường hợp này, cổ đông sáng lập chưa góp cổ phần theo đăng ký đương nhiên không còn là cổ đông của công ty. Đồng thời, Công ty phải đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua sẽ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không được quyền chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác. Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán, không được quyền chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác. Khi số cổ phần đăng ký góp của các cổ đông sáng lập chưa được góp đủ thì các cổ đông sáng lập cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phần chưa góp đủ đó.
 

Câu hỏi: Quy định của pháp luật về mệnh giá cổ phần?

Trả lời: Theo quy định tại điều 5 Nghị định 01/2010/NĐ-CP về chào bán cổ phần riêng lẻ, : - Cổ phần chào bán riêng lẻ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ghi bằng đồng Việt Nam. - Mệnh giá cổ phần chào bán riêng lẻ là 10.000 (mười nghìn) đồng Việt Nam.
 

Câu hỏi: Giám đốc Công ty TNHH có được làm giám đốc Công ty khác không?

Trả lời: Ðiều 116 Luật Doanh nghiệp qui định Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty cổ phần không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác. Ngoài ra, pháp luật hiện hành không có quy định cấm một cá nhân đồng thời làm giám đốc nhiều công ty TNHH.
 

Câu hỏi: Chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài có giá trị sử dụng để đăng ký kinh doanh tại Việt Nam hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp thì Chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác. Ví dụ, theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư số 12/2009/TT-BXD ngày 24//6/2009 về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, cá nhân người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có chứng chỉ hành nghề do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp nếu còn giá trị sử dụng thì được công nhận để hành nghề. Khi hành nghề tại Việt Nam, các cá nhân này phải gửi bản dịch chứng chỉ hành nghề sang tiếng Việt có chứng thực hợp pháp cho Sở Xây dựng địa phương nơi cá nhân đó hành nghề biết để quản lý.
 

Câu hỏi: Theo quy định, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thường trú tại Việt Nam. Như vậy, trường hợp người đại diện của doanh nghiệp là người nước ngoài có phải làm thủ tục cấp thẻ thường trú tại Việt Nam hay không?

Trả lời: Hiện nay, trường hợp người nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn theo thủ tục cấp Thẻ tạm trú ký hiệu B2 cấp cho người nước ngoài làm việc tại dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chứng nhận đầu tư phù hợp với mục đích, thời hạn và địa chỉ đăng ký theo quy định tại Nghị định 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và hướng dẫn thực hiện tại Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002. Trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày, nhà đầu tư phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 16 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp.
 

Thông báo Thông báo












Đăng nhập